Mụn trứng cá triệu chứng và cách điều trị khoa học

  • 04/05/2020 09:09
  • 191

Mụn trứng cá, thường được hiểu là mụn trứng cá thông thường (acne vulgaris), là bệnh da liễu được đặc trưng bởi tình trạng viêm khu trú vùng nang lông - tuyến bã. Cơ chế sinh bệnh được xác định cho đến thời điểm hiện nay là do:sự tăng tiết bã nhờn, sự sừng hóa (keratin hóa) bất thường của phễu nang lông, sự liên quan của trực khuẩn kị khí gram dương Propionibacterium acnes, và các loại phản ứng viêm.

Trong đó sự tăng tiết bã nhờn được coi là điều kiện cần của mụn trứng cá, còn phản ứng viêm được xem là yếu tố then chốt. Vai trò của phản ứng viêm quan trọng đến nỗi ngày nay người ta có xu hướng xem mụn trứng cá là một loại bệnh tự miễn. Biểu hiện của bệnh là nhiều loại tổn thương khác nhau như: nhân mụn (comedon), sẩn, mụn mủ, cục, nang... khu trú ở các vị trí tiết nhiều chất nhờn như mặt, lưng, ngực.

 

Cần lưu ý đến tính chất đa dạng trong tổn thương mụn trứng cá để phân biệt với phát ban trứng cá, vốn thường có triệu chứng là các sang thương đơn dạng (sẩn), cùng lứa tuổi và có thể xuất hiện ở vị trí ngoài vùng tiết bã. Mụn trứng cá thường không ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, tuy nhiên, bệnh có xu hướng tồn tại dai dẳng, hay tái phát, với biến chứng thường gặp là sẹo lõm, hoặc sẹo lồi, gây mất thẩm mỹ, làm suy giảm đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Có sự liên hệ khá rõ ràng giữa bệnh lý mụn trứng cá và xu hướng trầm cảm (depression), đặc biệt là ở người trẻ.

 

Các loại mụn trứng cá


Trứng cá thể thông thường

 

Là hình thái thường gặp nhất. Tổn thương rất đa dạng:

  • Bắt đầu từ tuổi dậy thì, người bệnh có hiện tượng tăng tiết bã nhờn như da mỡ, nhờn, trơn bóng, tóc nhờn, lỗ chân lông giãn rộng.
  • Trên nền da nhờn xuất hiện các tổn thương nhân trứng cá (comedon) hay mụn đầu đen (point noir) do chất bã bài tiết và tế bào biểu mô cô đặc lại mà thành
    Các thể lâm sàng trứng cá nặng

     

  • Trứng cá dạng cục, dạng kén
  • Trứng cá bọc
  • Trứng cá tối cấp

Các thể lâm sàng khác
 

 

  • Trứng cá trẻ sơ sinh
  • Trứng cá bội nhiễm
  • Phát ban trứng cá (trứng cá do thuốc, do hóa chất..)
  • Trứng cá đỏ (mũi cà chua)

Cần lưu ý là phát ban trứng cá và trứng cá đỏ thực chất không phải là mụn trứng cá do có cơ chế sinh bệnh khác hẳn, và cách điều trị cũng khác.

Triệu chứng

 

  • Trứng cá nhẹ: có đầu đen (đầu trứng cá hở, nhân tiếp xúc với không khí và bị chuyển màu thành đen) và đầu trắng (đầu trứng cá có màng bao bọc, không tiếp xúc với môi trường ngoài), kèm một số nốt sần và nốt có mủ. Trứng cá nhẹ thường tự hết trong vòng 1-2 tuần,không để lại sẹo mà cũng không cần phải dùng thuốc.
  • Trứng cá vừa: nốt sần màu đỏ, hơi đau, nốt có mủ nhiều hơn, và có tạo sẹo nhỏ, diễn tiến dai dẳng, có những đợt thoái lui. Dễ tái phát khi sử dụng các chất kích thích: Rượu, bia, thuốc lá, cafein... hoặc phát triển và thoái triển theo chu kỳ kinh nguyệt (ở nữ giới)
  • Trứng cá nặng: có các cục nhỏ có viêm, đau nhiều, có phù nề, và nốt sần, nốt có mủ rất nhiều, có thể gây sẹo lớn
     

Tiến triển chung của trứng cá

Đa số tự khỏi. Một số trường hợp có thể kèm theo các rối loạn như nhiễm trùng, trứng cá đỏ, viêm tổ chức dưới da. Nếu tổn thương mọc quanh miệng mũi, có mủ, khi nặn không vô khuẩn có thể gây nhiễm khuẩn huyếtviêm xoang tĩnh mạch nông.

Một số yếu tố khác liên quan đến hình thành mụn trứng cá

  • Tuổi: 90% trường hợp ở lứa tuổi 13-19 (tuổi dậy thì), sau đó bệnh giảm dần. Nhưng trứng cá có thể bắt đầu ở tuổi 20-30 hoặc thậm chí muộn hơn ở tuổi 50-59 (trung niên).
  • Giới: Nữ nhiều hơn nam, tỷ lệ nữ/nam ≈2/1, nhưng bệnh ở nam giới thường nặng hơn nữ
  • Yếu tố gia đình: 50% bệnh nhân có tiền sử gia đình
  • Yếu tố thời tiết, chủng tộc: khí hậu nóng ẩm, khô hanh liên quan đến bệnh trứng cá, người da trắng và da vàng bị trứng cá nhiều hơn người da đen.
  • Yếu tố nghề nghiệp: Khi tiếp xúc với dầu mỡ, với ánh nắng nhiều….làm tăng khả năng bị bệnh
  • Yếu tố stress: có thể gây nên bệnh hoặc làm nặng thêm bệnh trứng cá
  • Chế độ ăn: một số thức ăn có thể làm tăng nặng bệnh trứng cá như sôcôla, đường, bơ, cà phê…và một số thức ăn liên quan đến dầu mỡ và đường.
  • Các bệnh nội tiết: một số bệnh Cushing, bệnh đường giáp trạng, bệnh buồng trứng đa nang….làm tăng trứng cá.
  • Thuốc: Một số thuốc làm tăng trứng cá như corticoid, nhóm halogen…
  • Một số nguyên nhân tại chỗ: vệ sinh da mặt, chà xát, nặn bóp không đúng phương pháp, lạm dụng mỹ phẩm và chất hóa học.

Điều trị

 

Mụn trứng cá thực sự làm suy giảm nặng nề chất lượng cuộc sống. Thậm chí mụn trứng cá thể nhẹ cũng có thể gây ra nhiều đau khổ. Vì vậy, điều quan trọng là cần thiết phải điều trị mụn trứng cá hơn là để cho bệnh tự thoái lui.
 

Mục tiêu

  • Chống tiết nhiều chất bã
  • Chống dày sừng phễu nang lông
  • Chống nhiễm khuẩn
  • Kháng viêm

Thuốc điều trị

Chia làm 4 nhóm chính:

  • Nhóm thuốc làm bạt sừng, bong vảy (keratolytics): Ví dụ mỡ salicylic acid 5-10%: có tác dụng làm mỏng lớp sừng trên bề mặt da, giúp chất bã thoát ra ngoài dễ dàng hơn. Nhóm thuốc này thích hợp để làm bong các nút sừng ở các loại mụn đầu trắng, mụn bọc nhỏ.
  • Nhóm thuốc kháng sinh (antibiotic) và kháng khuẩn (antibactarial): Thường dùng các kháng sinh như clindamycin, erythromycin, kháng khuẩn chống viêm như benzoyl peroxide. Dùng cả đường toàn thân và tại chỗ.
  • Nhóm vitamin A acid (retinoid): Có tác dụng chống sừng hoá cổ tuyến bã, do đó ngăn ngừa hình thành các nút sừng tại cổ tuyến bã, giảm tắc nghẽn chất bã trong tuyến bã. Nên dùng kết hợp với nhóm kháng sinh để đạt hiệu quả điều trị cao hơn
  • Nhóm thuốc nội tiết (hormone): Liệu trình điều trị thường kéo dài từ 3 - 6 tháng. Không nên dùng loại thuốc tránh thai có thành phần progesterol đơn thuần vì loại này thường làm tăng nặng bệnh trứng cá. Nên dùng loại kết hợp progesterol tổng hợp thế hệ 2 như levonorgestrel, ethinyloestradiol cho các trường hợp trứng cá vừa và nặng.

Tư vấn

 

  • Hạn chế dùng thuốc có brom, corticoid
  • Rửa mặt bằng sữa rửa mặt phù hợp với da.
  • Ăn ít đường, sôcôla, chất béo, thức ăn có liên quan tới dầu mỡ, đồ ngọt..
  • Tránh làm việc quá sức, hạn chế stress.
  • Khi bị bệnh mụn trứng cá, nếu nặn phải có phương pháp nếu không thì sẽ lây lan qua các vùng lân cận ở da.

 

Tham khảo dùng sản phẩm                                                      
Mỹ phẩm

 

                                                                                                       
Máy thẩm mỹ

 

Bình luận